Kiến thức cho dịch thuật

Các khó khăn trong dịch và phương hướng khắc phục

Việc phân loại các khó khăn trong dịch có ý nghĩa to lớn về mặt phương pháp luận, đồng thời cũng tạo ra được ý thức về chúng để từ đó đề ra, xây dựng được một chiến lược và sách lược nhằm giúp cho công việc dịch thuật và đào tạo phiên dịch, biên dịch ngày càng tốt hơn.
Kiến thức cho dịch thuật

Kiến thức cho dịch thuật

1. Các khó khăn

Chúng tôi chia ra hai loại khó khăn lớn là khó khăn chung và khó khăn riêng. Khó khăn chung là khó khăn xảy ra đối với toàn bộ quá trình dịch, cho bất cứ thứ tiếng nào và ở tất cả các loại hình dịch. Những khó khăn riêng được giới hạn bởi một khía cạnh nào đó của dịch như đối với từng loại hình dịch, từng loại hình văn bản (chính trị-xã hội, văn học-nghệ thuật, khoa học-kỹ thuật…), từng cặp tiếng cụ thể (Hán-Việt, Anh-Việt, Việt-Nga, Việt-Nhật…) cũng như từng góc độ đơn vị chức năng ngôn ngữ khác nhau. Chẳng hạn: dịch danh từ, động từ, liên từ, giới từ, chủ ngữ, định ngữ, câu đơn, câu phức…

Xét theo nguồn gốc, nguyên nhân, chúng tôi chia những khó khăn chung thành 3 loại:

a. Các khó khăn sinh ra từ sự bất đồng ngôn ngữ

Đây là loại khó khăn hay gặp nhất và ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quá trình dịch. Chẳng hạn trong hai câu tiếng Anh: “My father is 50 years old. He works at a factory.”, ta dịch “He” là gì không phải đơn giản bởi vì để chỉ ngôi thứ 3 số ít thuộc nam giới này tiếng Việt có rất nhiều từ để chúng ta lựa chọn: nó, y, hắn, ông ấy, thằng ấy, gã ấy … Khi dịch ta phải lựa chọn từ cho phù hợp với ngữ cảnh và phù hợp với cả ngữ nghĩa tức là hiện thực được phản ánh trong văn bản.

Khi phải dịch các từ láy, dạng láy tiếng Việt sang các thứ tiếng Châu Âu cũng khó đảm bảo sự tương đương về hình thức và càng không phản ánh được các sắc thái ngữ nghĩa. Bởi vì các thứ tiếng Châu Âu có rất ít từ láy, dạng láy. Từ điển Việt – Anh (Lê Khả Kế chủ biên, NXB GD in năm 1991) dịch các từ “héo”, “héo hon”, “héo hắt”, “heo héo” đều là wither; còn “lạnh”, “lạnh lùng”, “lạnh lẽo” đều là “cold”. Trong khi các từ ấy rất khác nhau về những sắc thái biểu cảm.

Từ “lơ láo” tương đương với tiếng anh là “look lost and out of one’s element”, “mơn mơn” thành “1. Freshly tender, freshly young 2. In the prime of youth” đều là những câu hoặc cụm từ. Như thế đây là sự giải thích nghĩa chứ không phải dịch.

Sự chuyển đổi các cụm từ cố định – quán ngữ, thành ngữ tiếng Việt như “cái con mụ đanh đá kia”, “cái thằng lạc loài vô liêm sỉ ấy”, “cái ngữ chó chui gầm chạn như mày”; rồi “chuột sa chĩnh gạo”, “tham bát bỏ mâm”, v.v… cũng khó đạt được sự tương đương cần thiết. Ngoài ra đối với các tác phẩm thơ văn phải chuyển đổi được (dịch được) những quy định nghiêm ngặt về niêm luật, vần điệu, số lượng âm tiết… trong câu thơ là những khó khăn về ngôn ngữ mà các dịch giả thường xuyên gặp phải.

b. Loại khó khăn thứ hai là do sự khác biệt về văn hoá giữa các dân tộc tạo nên

Trên thế giới có hai nền văn hoá tạo nên những sự khác biệt lớn là văn hoá Đông-Tây. Tuy nhiên, suy cho cùng mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng về địa lý, lịch sử, đời sống vật chất, tinh thần, phong tục tập quán… Tức là một nền văn hoá riêng và đều được phản ánh rõ rệt vào trong ngôn ngữ, đặc biệt trong từ vựng của từng dân tộc. Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, địa hình phức tạp, nền nông nghiệp lâu đời, cuộc đấu tranh chống ngoại xâm dai dẳng, oanh liệt… là những đặc điểm chính của nền văn hoá Việt Nam. Những sự vật, sự việc, hiện tượng, khái niệm liên quan đến các đặc điểm đó phản ánh rõ rệt trong các tên gọi, vật dụng sản xuất, chế biến lúa gạo như: cày sâu cuốc bẫm, gieo mạ, làm cỏ, gầu giai, gầu sòng, bón thúc, bón đón đòng, xay, giã, giần, sàng, thúng, mủng, nong, nia, sọt, gạo tẻ, nếp cẩm, tám xoan, tấm, cám, trấu; bánh đa, bánh đúc, bánh chưng, bánh dầy, bánh giò, bánh khúc, bánh cốm… Các phong tục tập quán về cưới xin (dạm ngõ, ăn hỏi, thách cưới, nộp cheo…), tôn giáo, tín ngưỡng (đình, chùa, miếu, am, phủ, điện thờ, bàn thờ, ngai, bài vị, mẫu thoải, chúa thượng ngàn…) rất phổ biến đối với người Việt nhưng lại vô cùng xa lạ đối với người phương Tây. Khi phải dịch những từ ngữ phản ánh những nét văn hoá đó sang các thứ tiếng nước ngoài, chúng ta gặp phải không ít khó khăn, khó khăn lớn đến mức tưởng chừng ta phải chịu bó tay, bởi vì trong ngôn ngữ đích không có những nét văn hoá như thế cho nên không có những từ ngữ tương ứng.

c. Loại khó khăn sinh ra từ sự khác biệt về phương thức tư duy của từng dân tộc, trong đó nổi bật nhất là phương thức chia cắt hiện thực của từng cộng đồng ngôn ngữ. Chẳng hạn như Bê-la-ép, cùng một hiện thực là “thời điểm 2 giờ sau 12 giờ đêm” tiếng Nga nói là (два часа ночи) (2 giờ đêm) tiếng Pháp diễn đạt là “deux heures du matin” (2 giờ sáng). Đối với tiếng Việt, tiếng Hung và một số thứ tiếng khác thì cả hai cách diễn đạt đều được sử dụng ngang nhau. Một số thí dụ khác: tiếng Việt gọi cái xe đạp là “xe đạp” là gọi theo chức năng hoạt động của sự vật, trong khi tiếng Anh, Pháp gọi là “bicycle”, “bicyclette” – “cái hai vòng tròn” tức là gọi theo hình dáng cấu tạo sự vật, còn tiếng Hán lại gọi theo trạng thái của sự vật*.

Như vậy, ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu và tiêu biểu nhất để biểu thị phương thức tư duy của từng thứ tiếng. Vậy người Việt tư duy thế nào? Thông qua sự thể hiện trên tiếng Việt chúng ta có thể nhận thấy những điểm nổi bật sau đây:

– Người Việt ưa tư duy theo kiểu cụ thể, hình tượng: Lấy cái cụ thể hình tượng để biểu thị cái khái quát trừu tượng. Điều này có thể thấy rõ nhất trong lĩnh vực cấu tạo từ mới. Tiếng Việt có hai loại từ ghép là từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. Cả hai kiểu cấu tạo từ này đều có một tiểu loại gọi là từ ghép chuyển nghĩa, trong đó các từ tố mang nghĩa đen, nghĩa cụ thể, khi kết hợp thành từ ghép thì chúng lại có nghĩa khái quát trừu tượng. Thí dụ:đất nước, đường lối, cởi mở, hàn gắn, căng thẳng, tô hồng, bôi nhọ, to gan… Các tính từ của tiếng Việt tạo ra nhiều sắc thái mức độ chi tiết, tinh tế của màu sắc hay tính chất, chẳng hạn “đỏ rực, đỏ tía, đỏ au, đỏ tươi, đỏ hỏn…; trắng toát, trắng tinh, trắng đục, trắng hếu; mới tinh, mới toanh, mới cứng…”

Tuy nhiên khi cần biểu thị khái quát thì tiếng Việt cũng có những từ ngữ ít khi hoặc không bao giờ tìm thấy trong các thứ tiếng khác. Thí dụ: Tiếng Việt có một mầu xanh chung chung, sau đó mới sắc thái hoá mầu xanh (xanh thẳm, xanh rợn, xanh um, xanh biếc, xanh lá mạ, xanh cổ vịt, xanh lam, xanh da trời, xanh lá cây…).

Trong khi đó đa số các tiếng Ấn-Âu chỉ có 2-3 màu xanh lá cây (Anh) Green, (Pháp) Vert, Verte; xanh da trời (Anh) Blue, (Pháp) Bleu, Bleue,(Nga) Синий.

Gần đây trong tiếng Việt lại tiếp tục xuất hiện nhiều từ mới mang ý nghĩa khái quát như thế, ví dụ chất đốt, nước chấm…

– Người Việt lấy hình dáng, đặc điểm bên ngoài để gọi tên (định danh) các sự vật sự việc tạo nên ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa biểu vật) của từ. Chẳng hạn người Việt gọi củ là “Phần thân hay rễ cây phát triển lớn ra và chứa chất dinh dưỡng”. Củ có thể ở bên trên (củ su hào, củ ấu…), hoặc vùi sâu dưới mặt đất (củ khoai lang, củ gừng, củ chuối,…). Các tổ hợp như “tóc rễ tre, râu quai nón, chân bàn cuốc, mắt ốc nhồi, khăn mỏ quạ…” cũng phản ánh chính xác hình dáng của sự vật sự việc mà tiếng Việt gọi tên.

Các động từ chuyển động của tiếng Việt có thể chia ra làm các loại chuyển động tự dời chỗ (lăn, lê, bò, toài, trườn, chạy, nhảy, đi…) và dời chỗ đối tượng (mang, vác, khuân, khiêng, lôi, kéo, đun, đẩy, cõng, địu, đội, gánh, thồ…) đều có đặc trưng về phương thức chuyển động hay dời chỗ đối tượng trong nội dung ý nghĩa của từ.

Các động từ chỉ hướng “ra, vào, lên xuống, sang, qua, đến, tới, lui, lại, về”, cũng như vậy. Ở đây hướng vận động dời chỗ của đối tượng cũng đã phản ánh rất rõ cách thức nhận thức của người Việt thể hiện ở mối tương quan về kích thước không gian, giữa điểm xuất phát và đích mà chủ thể di động hướng tới.

– Có thể nhấn mạnh thêm một đặc trưng tư duy khác của người Việt Nam, đó là lối tư duy theo hướng rất phù hợp với thực tế tồn tại khách quan. Điều này được thể hiện rất rõ ở trật tự kết hợp các từ để thành cụm từ và câu. Thí dụ trật tự của cụm C-V và các thành phần câu thường là C (chủ ngữ) trước V (vị ngữ, nhất là vị ngữ động từ) đứng sau rồi mới đến B (bổ ngữ). Trong khi đó động từ của câu tiếng Nhật và tiếng Đức thì lại thường xuyên ở cuối câu, đứng sau cả trạng ngữ và bổ ngữ. Trong cụm tính từ, tính từ của tiếng Việt bao giờ cũng đi sau danh từ để bổ sung ý nghĩa trong mối quan hệ giữa sự vật và tính chất của nó, còn trật từ các từ thành phần của cụm tính từ các tiếng Ấn-Âu lại ngược với tiếng Việt: (Anh: New house ® Ngôi nhà mới), (Nga:  Новыий  год ® Năm mới).

Một giáo viên dạy dịch cho sinh viên năm thứ hai khoa Anh trường ĐH Hà Nội kể rằng nhiều em đã dịch tổ hợp “tay trắng” trong “ra về tay trắng” của tiếng Việt thành “white hand”. Nghĩa của tổ hợp này trong tiếng Việt là “tình trạng không có chút vốn liếng, của cải gì” (theo “Từ điển tiếng Việt” Hoàng Phê chủ biên, NXB KHXH Hà Nội, 1991). Hãy so sáng tổ hợp này với “trắng tay”, “đêm trắng”, “mất trắng”, “bỏ trắng”, “thức trắng đêm”, “trắng án”, “đồng trắng nước trong”, “trắng khăn tang”… chúng ta sẽ thấy “tay trắng” có những nét nghĩa khác hẳn (vừa có nghĩa cụ thể, vừa có nghĩa trừu tượng). Các ngôn ngữ Châu Âu, tiêu biểu là tiếng Anh, tiếng Pháp cũng dùng bàn tay để chỉ trạng thái đó như at first hand (một cách trực tiếp), at second hand (một cách gián tiếp), nhưng không dùng màu sắc như một biểu tượng một ẩn dụ như tiếng Việt mà dùng trực tiếp từ chỉ trạng thái tình trạng đó như bare (Anh), vide (Pháp) để chỉ trạng thái trống rỗng không: bare hands, vide maines chứ không nói white hand (Anh), blanche main (Pháp) như tiếng Việt. Nếu dịch trở lại các tổ hợp này sang tiếng Việt sẽ là “tay không” có nghĩa là: tay không có cầm nắm hay kèm theo một cái gì khác. Cần chú ý rằng tiếng Anh và tiếng Pháp cũng có sử dụng từ chỉ màu sắc đi kèm từ “tay” nhưng lại để miêu tả tình huống khác như “catch some one in red hand” (nghĩa là: bắt ai trong tay, túm được tay tức là bắt quả tang).

Như vậy ngôn ngữ và tư duy quan hệ gián tiếp với nhau thông qua cách thức chia cắt hiện thực để gọi tên để phản ánh các sự vật, sự việc, hiện tượng, khái niệm.

2. Các phương hướng khắc phục

Liệu chúng ta có thể khắc phục được các khó khăn chung như đã trình bày không? Câu trả lời theo chúng tôi không đến nỗi bi quan như một số người cực đoan lầm tưởng: Trong thực tế người ta cũng đã khắc phục được những khó khăn đó để tạo ra những bản dịch xuất sắc, đặc biệt là những tác phẩm văn học. Chúng tôi đề xuất 3 phương hướng khắc phục sau đây:

a. Những khó khăn về mặt ngôn ngữ được giải quyết bằng những kết quả các công trình so sánh, đối chiếu. Người dịch có thể vận dụng những tương đồng và khác biệt – Một trong những mục đích của các công trình đối chiếu song ngữ hoặc đa ngữ để chuyển dịch từ thứ tiếng này sang thứ tiếng khác.

Đối với những trường hợp khác biệt người dịch có thể lấy luôn từ ngữ trong ngôn ngữ gốc có phiên âm chú giải và với thời gian chúng sẽ trở thành từ ngữ của ngôn ngữ dịch. Các trường hợp trong tiếng Việt: bà đầm, bồi, cao bồi, xúc xích, giăm bông, phó mát, bơ, vang, vốt ca, xamôva, Xô viết, mít tinh, mô típ, tuýp, rôbốt… chính là những trường hợp như thế. Đây chính là đóng góp của người dịch trong việc tạo ra những từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ dịch.

b. Khó khăn thứ hai đặt ra cho người dịch một nhiệm vụ nặng nề là phải luôn luôn trau dồi cả tiếng mẹ đẻ lẫn tiếng nước ngoài. Người dịch giỏi phải thông thạo nhiều ngoại ngữ. Trước hết là tiếng mẻ đẻ và ngôn ngữ dịch.

c. Người dịch phải luôn luôn trau dồi thêm những kiến thức toàn diện sâu rộng. Ở trường học đã được cung cấp rất nhiều nhưng chưa đủ, anh ta phải học thêm về văn hoá, văn minh của nước mình và của đất nước mà mình biết tiếng.

Chín lỗi nhỏ trong dịch thuật gây lỗi lớn

Viết văn dễ hơn dịch. Văn của mình, mình viết sao mình cũng thấy hay cả. Người dịch bị giới hạn bởi nhiều thứ. Dịch sai cũng là chuyện rất thường xảy ra. Chúng ta tưởng chuyện quốc gia hệ trọng, người dịch cho vị nguyên thủ quốc gia phải là những dịch giả tài ba, nếu không dịch hay, ít nhất cũng phải dịch đúng. Ấy thế mà chẳng những họ đã sai, mà lại sai trầm trọng. Nếu bạn lỡ dịch sai, xin đừng tự tử (nếu có tự tử xin dùng bún hay mì để tránh tổn thất nghiêm trọng)

Đau đầu vì giấy tờ

Đau đầu vì giấy tờ

Bạn không phải là người đầu tiên và chắc chắn sẽ không phải là người cuối cùng. “Biết nói hai thứ tiếng không có nghĩa là biết cách dịch. Dịch là một khả năng đặc biệt mà dịch giả cố gắng cực nhọc để phát triển.”

Trong quyển sách mới ra lò “Found in Translation,” hai dịch giả chuyên nghiệp Nataly Kelly và Jost Zetzsche kể lại nhiều giai thoại dịch thuật rất hấp dẫn, từ chuyện gửi tin ngắn (text message) trong khi cứu trợ động đất ở Haiti cho đến những khó khăn trong khi thông dịch cho Thế Vận Hội và Giải Bóng đá thế giới cho đến tình bạn đặc biệt với những nhà thông dịch riêng của những người nổi tiếng như Yao Ming và Marlee Matlin. Sự quan trọng của dịch thuật nổi bật nhất khi những điều bất ổn đã xảy ra. Sau đây là 9 lỗi lầm nhỏ trong dịch thuật nhưng gây tai hại thật to lớn, tác giả Arika Okrent đã nêu ra trong bài báo đăng trên Mental Floss.

1. Dịch sai một chữ, tốn bảy mươi mốt triệu Mỹ kim.

Năm 1980, Willie Ramirez được đưa vào bệnh viện ở Florida trong tình trạng hôn mê. Gia đình của bệnh nhân cố diễn tả bệnh trạng với đội cấp cứu nhưng họ chỉ biết nói tiếng Mexico. Thông dịch viên của bệnh viện dịch chữ “intoxicado” thành “intoxicated” (say) thay vì “poisoned” (ngộ độc). Gia đình của bệnh nhân cho là anh ta ăn nhằm thức ăn độc trong khi thật sự anh ta bị xuất huyết não. Bác sĩ chữa trị anh như là người bị ngộ độc (như bị quá liều ma túy hay say rượu nặng) dựa vào triệu chứng của bệnh nhân. Bởi vì không chữa đúng cách và kịp thời nên bệnh nhân trở nên tê liệt. Ramirez kiện bệnh viện và được bồi thường 71 triệu Mỹ kim.

2. Kẹo sô-cô-la cho chàng.

Vào những năm 50, các hãng kẹo sô-cô-la bắt đầu khuyến khích khách hàng mua kẹo để mừng ngày dành riêng cho Tình Nhân ở Nhật Bản. Hãng kẹo dịch sai nên người Nhật Bản hiểu lầm là các bà phải tặng kẹo sô-cô-la cho người yêu trong ngày lễ Tình Nhân này thay vì được các ông tặng kẹo. Vì sự hiểu lầm này họ tặng các ông sô cô la cho đến ngày hôm nay. Tuy nhiên họ được bù đắp vì các ông sẽ tặng lại các bà vào ngày 14 tháng Ba. Chỉ có các hãng kẹo là được lời.

3. Không làm gì cả.

Năm 2009 ngân hàng HSBC đã phải bỏ ra 10 triệu để sửa chữa những thiệt hại tài chánh khi chữ “Assume Nothing” (đừng có “tưởng là” hay dự đoán những sự kiện mà không kiểm chứng) đã được dịch thành “Do Nothing” (không làm gì cả) ở một số quốc gia.

4. Thị trường sụt giá.

Năm 2005 đồng Mỹ kim bị tụt giá vì thị trường hối đoái đã sợ hãi do bản dịch ra Anh ngữ không chính xác của Guan Xiangdong, China News Service đăng trên Internet. Bản chính là một bài tường thuật chung chung có tính cách phỏng đoán nhưng bản dịch ra tiếng Anh dùng những chữ có luận điệu xác định và chắc chắn.

5. Lòng Thèm Muốn trong tương lai.

Khi Tổng thống Carter sang Ba Lan năm 1977, bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thuê một nhà thông dịch người Nga biết tiếng Ba Lan nhưng không chuyên nghiệp trong việc phiên dịch. Thông dịch viên dịch chữ nào thì Tổng thống Carter đọc ra tiếng Ba Lan chữ ấy. Những câu được dịch là when I abandoned the United States (khi tôi bỏ rơi Hoa Kỳ) trong khi nguyên tác là when I left the United States (khi tôi rời khỏi Hoa Kỳ) và “your lusts for the future” (sự thèm muốn có hàm ý dục vọng cho tương lai) thay vì “your desires for the future” (những mơ ước cho tương lai) đã làm giới báo chí của cả hai nước cười thú vị.

6. Chúng tôi sẽ chôn các người.
Vào lúc cao điểm của thời chiến tranh lạnh, Thủ tướng Nga Nikita Khrushchev đã đọc một bài diễn văn trong đó ông nói một câu bằng tiếng Nga “chúng tôi sẽ chôn các người.” Câu này được xem như một lời đe dọa sẽ chôn Hoa Kỳ bằng vũ khí nguyên tử làm tăng thêm phần căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Nga. Tuy nhiên, câu này được dịch sát nghĩa đen một cách quá đáng. Thật ra câu này có nghĩa là “we will live to see you buried” tức là chúng tôi sẽ tồn tại lâu dài hơn các ông. Dù câu này chẳng mấy thân thiện nhưng nó không đến nỗi mang tích cách đe dọa nạt như câu dịch truớc.

7. Cái gì ở trên đầu của Moses?

Thánh Jerome, thánh đỡ đầu của thông dịch viên, học tiếng Hebrew để có thể dịch kinh Cựu Ước sang tiếng La-tinh từ nguyên tác, thay vì dịch bản tiếng Hy lạp thời thế kỷ thứ ba mà mọi người đã dùng. Bản tiếng La-tinh trở thành nền tảng cho hằng trăm bản dịch sau đó, có chứa một lỗi. Khi Moses xuống núi Sinai đầu của ông có “radiance” (hào quang) hay là theo ngôn ngữ Hebrew “karan.” Nhưng ngôn ngữ Hebrew được viết không có nguyên âm, và thánh Jerome đã đọc chữ “karan” thành “keren,” nghĩa là horned (mọc sừng.) Từ lỗi này mà hằng mấy trăm năm sau trong các bức tranh và tượng điêu khắc, Moses luôn có sừng và người Do Thái thường bị nhạo báng là những kẻ có sừng.

8. Bạn phải thắng Sheng Long.

Trong trò chơi điện tử “Street Fighter II” của Nhật Bản, một nhân vật nói rằng, “nếu bạn không thể đỡ được Cú Đấm Rồng Bay, bạn không thể thắng cuộc!” Khi câu này được dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh, những chữ nói về “rising dragon” (rồng bay lên) được dịch thành ra danh từ “Sheng Long.” Cùng một cách viết nhưng cách đọc tiếng Nhật thì khác, và dịch giả, dịch một loạt danh sách những câu viết ngắn và không biết tình huống mà những câu này được áp dụng, đã tưởng lầm rằng một nhân vật mới được đưa vào trong trò chơi này. Những người chơi trò chơi đã điên đầu cố tìm cho ra nhân vật Sheng Long và làm cách nào để thắng hắn. Năm 1992, vào ngày April Fool (ngày được quyền nói láo để đùa nghịch) tờ nguyệt san Electronic Gaming đã cho phát hành lời chỉ dẫn rất công phu và khó sử dụng về cách thức tìm Sheng Long. Chuyện giả mạo này không được tiết lộ mãi đến tháng 12, sau khi vô số giờ của người chơi game đã bị lãng phí.

 9. Thiệt hại lớn ở Waitangi.

Năm 1840, chính phủ Anh ký hiệp ước với các vị thủ lãnh của bộ lạc Maori ở New Zealand . Người Maori muốn người Anh bảo vệ họ để tránh bọn cướp bóc tù tội, những tên thủy thủ, hay những kẻ xấu đi ngang qua lãnh thổ của họ; còn người Anh thì muốn thâu tóm thêm thuộc địa. Hiệp ước Waitangi được soạn thảo và cả hai bên đều ký kết. Tuy nhiên hai bên đã ký vào hai tài liệu khác nhau. Trong bản tiếng Anh, dân tộc Maori sẽ “cede to Her Majesty the Queen of England absolutely and without reservation all the rights and powers of Sovereignty” có nghĩa là người Maori đồng ý giao hoàn toàn chủ quyền quốc gia cho Nữ Hoàng Anh mà không đòi hỏi gì cả. Trong bản dịch ra tiếng Maori, được một nhà truyền giáo người Anh soạn thảo, người Maori không phải từ bỏ quyền chủ quyền quốc gia mà chỉ giao quyền cai trị hành chánh. Lãnh tụ Maori tưởng lầm là họ sẽ được giúp đỡ với hệ thống pháp luật của người Anh, nhưng vẫn được giữ quyền cai trị dân của họ. Điều này không xảy ra như họ mong đợi, và nhiều thế hệ sau những vấn đề chung quanh nghĩa của hiệp ước này vẫn còn được mang ra bàn thảo.

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *